Gia chánh

Monday, September 2, 2019

Ba tôi và trại tù Vĩnh Phú

Lê Xuân Mỹ
Tác giả qua Mỹ năm 1998 diện đoàn tụ ODP, là một kỹ sư từng làm việc tại Kia-Tencor San Jose, California. Lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ với bài viết về Mẹ trong mùa Mother’s Day 2019, ông cho biết có người cha sĩ quan tù cải tạo chết ở trại Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa. Bài viết mới kể về chuyện người mẹ và tác giả thăm nuôi đúng vào những giờ phút sau cùng của người cha trong trại tù cải tạo. Tựa đề đầy đủ của bài viết: “Ba Tôi, Những Giờ Phút Sau Cùng và người bạn tù trên đất My” được rút gọn theo nội dung.


Ba toi_Le xuan MyA
Di ảnh Ông Lê Xuân Điềm, Thiếu Tá Cảnh Sát, Bộ tư lệnh Cảnh Sát Sài Gòn. Ông sinh năm 1924. “Học tập cải tạo” tại K2 trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú. Mất ngày 10/2/1979 tại trại K2.

***

Vượt qua bao nhiêu cửa ải khó khăn, thủ tục nhiêu khê cuối cùng chúng tôi mới cầm được tờ giấy ra thăm ba tại trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú.

Tháng 2 năm 1979, hai mẹ con ra Hà nội bằng xe lửa. Sau khi hoàn tất mọi chuẩn bị sau cùng, chúng tôi cùng người gánh hàng thuê lên tàu chợ tuyến Cao Bằng Lạng Sơn để về ga Ấm Thượng. Hành lý mang theo là hai bao tải đồ ăn gồm lương khô, thực phẩm, thuốc men,  áo quần… bất kỳ cái gì cũng cần thiết cho người đang “học tập” cải tạo. Năm 1978, tôi đã thăm được ba lần đầu tiên, đã biết trước địa điểm, lại háo hức mong gặp ba, chuyến đi lần này diễn ra suông sẻ nhanh chóng hơn trước rất nhiều.

Xuống ga Ấm Thượng, vượt qua gần 30 km đường bộ, 2 lần gọi đò qua những dòng sông nước chảy xiết, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà khách K2 Tân Lập Vĩnh Phú vào lúc nửa đêm. Chuyến đi vất vả nhưng mẹ chịu đựng gian khổ và khoẻ hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Nghĩ đến lúc gặp lại ba vào ngày mai, hai mẹ con suốt đêm thao thức không ngủ được. Nằm bó gối ở một góc phòng, trong tiếng ễnh ương rên rĩ, tôi nhìn ra bên ngoài từ khe hở của vách tre lá của nhà khách ở một vùng đất gần biên giới Việt Hoa xa xôi, và cảm nhận cái nỗi thê lương của những tháng ngày mà ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo, đã và đang trải qua.

Tiếp chúng tôi là một tay công an khá lớn tuổi với khuôn mặt rất hình sự. Tôi đưa giấy tờ, trình bày lý do, và xin phép được gặp ba. Gã cầm giấy tờ đi vào bên trong. Độ khoảng 15 phút, gã đi ra vẫn với khuôn mặt khó đăm đăm. Gã nói: Rất tiếc không thể để hai người gặp tù nhân này được. Ông nhà đang bị kỷ luật vì vi phạm nội quy trại. Hai người có thể để thức ăn và đồ dùng lại chúng tôi sẽ chuyển cho ông. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc và năn nỉ. Gã một mực cương quyết lắc đầu. Mẹ tôi càng lúc càng khóc to hơn.

Càng bị từ chối, nỗi uất ức càng lớn, bà bắt đầu nằm lăn ra sàn đất. Vừa la vừa lết, vừa khóc vừa hét. Gã công an lúng túng không biết xử lý cách nào. Những người đến thăm nuôi và cả những cán bộ của các bàn bên cạnh đều hướng về phiá chúng tôi. Tình hình căng thẳng đến tai cấp chỉ huy trại. Một sĩ quan công an bước vào. Hai người thầm thì nhỏ to gì đó. Cuối cùng viên sĩ quan đến gặp chúng tôi, dịu giọng.

Thật ra chúng tôi rất muốn giúp bà nhưng quả thật hiện nay ông nhà đang bị kỹ luật bị giam ở ngoài trại cách đây rất xa. Thôi bà về đi. Tuần sau bà quay lại. Tôi sẽ cho bà gặp ưu tiên với thời gian gấp đôi bình thường. Còn bây giờ bà cứ để thức ăn và đồ dùng chúng tôi hứa sẽ đưa tận tay ông nhà, không thiếu một thứ gì.

Năn nỉ ỉ ôi cách mấy cùng không lay chuyển tên cán bộ quản giáo, tôi nghĩ chắc là hết cách. Chắc phải ở lại Hà Nội thêm một tuần. Nhìn khuôn mặt có vẽ hiền lành của viên sĩ quan công an, tôi nghĩ gã có vẻ thiệt tình. Tôi nói nhỏ với mẹ, mình vê thôi, ba bị kỷ luật. có xin cũng không được. Chịu khó về Hà Nội ngủ lây lất. Tuần sau lên lại hy vọng họ giữ lời hứa cho gặp được ba lâu hơn.

Trong khi quay lại bàn tiếp tân để làm thủ tục đưa thức ăn và đồ dùng cho ba, bỗng dưng tôi thấy một ánh mắt hơi khác lạ của một tù nhân làm nhiệm vụ đem nước chè xanh cho những người đến thăm nuôi. Để ấm nước xuống bàn, người này đi chầm chậm về phiá chòi vệ sinh sau khi ngoái lại nhìn tôi, đôi mắt nhấp nháy kỳ lạ. Tôi xin phép gã cán bộ công an đi vệ sinh.

Bước vội vào phía trong vừa kịp thấy dáng khòm khòm của người tù nhân bước ra. Tôi bước vào, nhìn quanh cái chòi tiêu, tiểu được xây tạm bợ bằng lá tranh với cánh cửa tre nửa kín nửa hở. Tôi ngồi xuống và nhìn quanh vách tre lá. Tôi có linh cảm hình như người tù nhân muốn cho tôi biết một điều gì đó. Tôi cố nhìn thật kỹ. Quả đúng như linh cảm, trên góc đòn tre phía trái của cầu tiêu, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết nguệch ngoạc một dòng chữ: “Ông Điềm bệnh nặng.”

Hoảng hốt tôi vội chạy ngược vào phòng tiếp tân. Dằn cơn xúc động tôi kéo mẹ ra góc phòng báo tin. Mẹ bình tĩnh và khôn ngoan hơn tôi tưởng rất nhiều. Bà quay trở lại bàn tiếp tân và nói: Xin cán bộ cho tôi ở lại đây đợi chồng tôi về chứ bây giờ vừa đi vừa về Hà Nội cũng mất hai ngày. Gã cán bộ nói láo trơn tru: Ông bị biệt giam ở nơi rất xa, phải tuần sau chúng tôi mới đưa ông nhà ra găp bà được.

Đến lúc này nỗi uất ức trong lòng mẹ tôi bùng nổ, bà khóc và la hét to hơn: “Mấy ông nói láo, tôi biết chồng tôi đau nặng, đồ sát nhân, sao không cho chúng tôi gặp. Các ông có còn là con người không?”

Đến lúc này thì mẹ tôi không còn biết sợ là gì nữa, Tất cả những oán hận chất chứa trong lòng bao lâu này được dịp thoát ra, không ai có thể ngăn được. Cả phòng khách của K2 bắt đầu nhốn nháo, ồn ào. Nhiều người bu quanh mẹ tôi lúc này đang nằm lăn lộn dưới sàn đất cứng ngắt. Gã cán bộ chạy vào trong và đi ra cùng với viên sĩ quan lúc nãy. Gã dịu giọng nói với chúng tôi: Xin bà bình tỉnh Mời bà và anh vào trong, chúng tôi sẽ giải quyết. Nói xong gã ra lệnh cho hai tay công an dìu mẹ tôi vào căn phòng phiá trong. Có lẽ không muốn những người thăm nuôi khác biết chuyện.

Căn phòng sạch sẽ hơn phòng bên ngoài nhiều. Viên sĩ quan công an nói: Bây giờ tôi xin nói thật về tình trạng của ông nhà. Thật ra ông đang bệnh và chúng tôi đang tích cực chữa chạy cho ông. Nay bà đã biết, tôi sẽ thu xếp cho bà vào gặp ông. Ông nhà đang nằm ở bệnh xá, tôi sẽ cho người dẫn ông bà đi. Xin ông bà đợi một lát. Nói xong gã bước ra, nói nhỏ gì đó với công an trực.

Gã công an bước đi thật nhanh. Khoảng 40 hay 50 phút gì đó gã trở về, bước đi gấp gáp, hấp tấp. Lại thì thầm to nhỏ với viên chỉ huy. Tôi linh cảm có chuyện không hay. Lần này viên sĩ quan trầm giọng: Thưa bà, chúng tôi vừa mới nhận được tin, mặc dù chúng tôi đã tận tình chữa trị, nhưng vì sức yếu, ông nhà vừa mất cách đây 5 phút. Chúng tôi xin chia buồn với bà. Chúng tôi sẽ đưa bà đi gặp ông lần cuối cùng.

Nghe tin dữ, mẹ tôi như điên cuồng. Bà nằm lăn ra đất. Vừa khóc vừa la. Không từ nào mà bà không đem ra. Không nhân vật nào bà không réo tên chửi...Vừa chửi vừa khóc, khóc đến khan cả giọng. Mồ hôi quyện với đất đỏ dính đầy áo quần, mặt mũi. Hết khóc rồi bắt đầu cười ngây dại. Tôi ôm mẹ không nói được nên lời. Nỗi đau quá lớn làm thần kinh tôi như tê liệt. Ôm mẹ với trái tim nhói đau như kim châm và mẹ ngất đi.

Khoảng 15 phút sau, chúng tôi được dẫn di gặp ba. Nơi ba nằm là một căn nhà nhỏ đơn sơ gọi là bệnh xá nằm sâu trong K2 cách nhà khách khoảng 30 phút đi bộ. Ba nằm trên một giường tre, thân hình gầy guộc, khuôn mặt ốm nhom như bộ xương khô. Hàm râu lổm chổm có lẽ được cắt ngắn một cách vội vàng không dài thòn như lần đầu tôi gặp. 

Hình như đã hết nước mắt, mẹ không khóc yên lặng ngồi bệt xuống đất vói tay ôm lấy ba. Tôi ngồi xuống phiá bên kia. Hai mẹ con ôm choàng lấy ba. Vẫn còn hơi ấm của một cơ thể vừa mới qua đời. Mẹ vuốt mắt ba. Mắt trừng trừng nhìn ba. Hình như tôi thấy trong mắt mẹ màu đỏ của máu. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái hình ảnh của ba và mẹ tôi trong bệnh xá trại K2 Tân Lập hôm đó. Mẹ không khóc nhưng lại ngất thêm một lần nữa khi tôi định kéo mẹ đứng lên. 

Sau này qua một người bạn tù của ba, lúc mẹ con tôi đến thăm trại, đang hấp hối nhưng ba tôi biết. Lúc đó ba đã rất yếu. Ba nói ba sẽ cố gắng sống để găp mẹ một lần và ba cố gắng húp được vài muỗng cháo trắng. Những muổng cháo trắng cuối cùng trước khi ra đi mãi mãi. Giá mà tay cán bộ có một chút tình người thì có lẽ mẹ cũng được gặp ba một lần sau chót. Chỉ cần một lần mà thôi, của một cuộc tình ba mươi mấy năm. Tôi biết ba đã không đành lòng ra đi. Đành lòng sao được hả ba, khi vượt hàng ngàn cây số từ nam ra bắc, chỉ còn cách một bước chân thôi mà mẹ không thể nói với ba những lời yêu thương sau chót, để được nghe một lời trăn trối sau cùng. Tức tưởi và uất hận lắm ba. Mà thôi ba ơi. Cứ yên lòng ra đi rồi có ngày mẹ, ba và chúng con sẽ lại gặp nhau một nơi nào đó, trên thiên đàng. Chúng ta sẽ lại có những ngày tháng hạnh phúc bên nhau như thuở nào.

Để xoa dịu mẹ con chúng tôi, lần đầu tiên K2 có tổ chức một đám ma tù nhân tương đối đàng hoàng. Từ trước, đã có rất nhiều tù nhân chết ở đây. Toàn bộ được bó vào các manh chiếu mây tre rách rưới và được chon vùi sơ sài trong các mảnh đất trống bên trong trại. Ba có lẽ là người đầu tiên đưọc ưu tiên có hòm làm bằng gỗ ván thông dù rất mỏng dính. Chôn theo với ba là mấy bộ đồ rách bươm. Cũng có 4 người tù khiêng quan tài. Phía trước và phía sau có 4 công an đi cùng. Cũng có ly hương là cái chén ăn cơm cũ kỹ. Tôi cầm bài vị là một bức ảnh căn cước nhỏ xíu của ba còn sót lại trong trại. Mẹ đi sau quan tài. Đoàn đưa tang gồm 10 người lặng lẽ đi về phía một đồi trọc xa xa, phiá ngoài hàng rào trại K2. Trên đường đi, tôi để ý thấy có những gò đất với rất nhiều ngôi mộ vô danh. 

Nơi chôn ba là một ngọn đồi, chỉ có một cây đa thật to. Những người tù đào vội một lớp đất không sâu lắm, hòm được đặt xuống và lấp lại. Thế là xong. Ba tôi, một sĩ quan cảnh sát miền nam thua cuộc, cuối đời nằm ở đây, một vùng đất gần tận cùng biên giới Việt Hoa. Một mình, cô đơn, lạnh lẽo. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Suốt buổi lễ cứ nhìn trừng trừng. Một khuôn mặt tưởng như vô hồn, nhưng tràn đầy oán hận. Một nỗi hận đến vô cùng. Tôi cắn chặt môi đến tươm máu. Thôi ba ơi, hãy yên nghỉ tạm nơi đây, con sẽ quay trở lại một ngày không xa.

Trước khi trở về, tôi cẩn thận ghi dấu vị trí ngôi mộ với một chữ thập ghép bằng hai nhánh tre và khắc tên ba trên gốc cây to trước mộ.

Hai năm sau, thương ba nằm một mình hiu quạnh, mẹ con tôi trở ra lại trại Tân Lập cùng với một người đảo mộ thuê từ Hà Nội. Không xin được giấy phép bốc mộ, nửa đêm chúng tôi đã lén lút đào chui và trải qua những giờ phút gian truân, nguy hiểm. Cuối cùng chúng tôi cũng đem ba về nằm bên cạnh ôn mệ trong mảnh đất phía sau nhà, dưới chân núi Ngự Bình Huế.

Từ khi đem được ba về nằm ấm cúng bên cạnh những người thân yêu, cuộc sống của gia đình tôi từng bước thay đổi và trở nên tốt đẹp hơn. Có quá nhiều cái tình cờ, may mắn mà dù không muốn tin, tôi cũng phải tin có sự che chở của ba, có sự sắp đặt của ơn trên. Và nhờ đó gia đình mẹ và 9 anh em chúng tôi vượt qua được những ngày tháng khó khăn, tủi nhục, đen tối để đến cuối năm 1998 toàn bộ gia đình đoàn tụ trên miền đất thật xa quê nhà nhưng tự do này.

Là những người cuối cùng trong đại gia đình qua Mỹ theo diện đoàn tụ, vợ chồng chúng tôi cùng 3 con nhỏ về sống tại thành phố nhỏ Tulsa thuộc tiểu bang Oklahoma. Vào cuối năm 1998, khi chúng tôi mới đến cư ngụ, Tulsa là một thành phố hiền hoà nhưng cũng thật buồn và trầm lắng. Người Việt không nhiều, nhưng may mắn cũng có một vài chợ Việt Nam, một vài quán ăn người Việt, không ngon lắm nhưng cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà của những đứa con mới vừa lưu lạc.

Lúc vừa mới đến, thấy gia đình 5 người chưa có công việc làm, mấy người bạn đề nghị chúng tôi đi xin housing và chế độ trợ giúp cho người low income. Vào thời đó ở cái thành phố đất rộng người ít này, việc xin trợ cấp của chính phủ tương đối dể dàng. Ai cũng khuyên vì với tuổi đời gần 50, một vợ và 3 con còn nhỏ, tội gì phải đi làm cho vất vả, ở nhà của chính phủ, con cái có nhà nước lo, sáng kéo nhau ra quán cafe, chiều tập trung tại một nơi nào đó cùng với bạn bè, xem đánh cờ và ngồi tám chuyện ngày xưa. Vừa nhàn, vừa có tiền tội gì phải vất vả mưu sinh. Đâu phải ai cũng có điều kiện để xin được trợ cấp như gia đình tôi đâu. 

Nhưng đó không phải là con đường của tôi sẽ đi. Đứa con của một sĩ quan tù cải tạo chết ở biên giới Việt Hoa ngày nào sẽ không thể sống như thế. Thế là, sau thời gian đầu chuẩn bị cho những việc cần thiết, lấy bằng lái xe, ở tạm nhà người em gái, chúng tôi bắt đầu cho một cuộc sống mới trên một miền đất xa lạ này. 

Vợ tôi xin vào làm phụ bếp trong một nhà hàng Việt Nam. Tôi và đứa con đầu nhờ có bằng TOEFL nên đăng ký đi học đại học trở lại. Ngoài giờ học, cháu đi làm thêm công việc phục vụ nhà hàng, tôi nhờ có chút tay nghề sửa máy tính và tivi, xin vào làm technician cho hãng bán máy móc điện tử COMPUSA. Hai con nhỏ đi học ở trường gần nhà.

Tiền lương không cao lắm, nhưng với vật giá không đắt đỏ và con người hiền hoà của một thành phố nơi nhà thờ nhiều hơn nhà dân này, chúng tôi đã có những bước khởi đầu hội nhập không quá đỗi khó khăn. Và quan trọng là tôi được đoàn tụ với mẹ, các em, và cùng với gia đình riêng, chúng tôi đã sống không giàu có, nhưng lương thiện, đầy đủ và tự do.

Có quá nhiều điều để kể về những ngày tháng trên một miền đất không phải là nơi tôi sinh ra này, hy vọng sẽ có trong một bài viết khác, ở đây tôi chỉ muốn nói đến những mối nhân duyên mà ông trời đã sắp đặt liên quan đến câu chuyện của ba tôi, người sĩ quan tù cải tạo chết tại trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú tháng Hai năm 1979.

Cuộc sống ở Tulsa phải nói là rất dể chịu và an bình. Với sự tằn tiện và chịu thương chịu khó, chúng tôi cũng mua trả góp được một căn nhà nhỏ, tạm đủ cho một gia đình 5 người, những ngày tháng an bình và hạnh phúc. 

Nhưng rồi năm 2000, sau khi lấy lại bằng đại học, tôi xin được việc làm tại KLA-TENCOR ở San Jose, Ca. Nghe tôi định di chuyển về San Jose, bạn bè, người thân ai cũng bàn ra. Thứ nhất tôi đang sống an nhàn, mọi việc ồn định, lên San Jose, tuy lương cao hơn, nhưng nhà cửa, cuộc sống đắt đỏ, lạ lẫm, chắc chắn sẽ khó khăn vất vả hơn nhiều. Làm lại từ đầu, có trụ nổi không hay lại khăn gói trở về như một số người ở bên này.

Nhưng, với tôi, quan trọng không phải là đồng lương cao thấp, đường đi dễ dàng hay vất vả, bằng phẳng hay gập ghềnh, mà là một công việc phù hợp với cái kiến thức và cái khả năng được đào tạo của mình, trong một ngành nghề mình yêu thích. Thế là gia đình nhỏ, 5 người chúng tôi một lần nữa khăn gói đi về một thành phố xa lạ hơn, một nơi được xem như đắt đỏ vào bậc nhất nước Mỹ để kiếm sống. 

Cho đến bây giờ trải qua gần 20 năm, với biết bao thăng trầm, thời gian, với tôi,  thời gian ở San Jose vẫn là một quãng đời đáng sống. Có nhiều điều để nhớ lại, nhưng trong phạm vi bài viết, tôi muốn nhắc đến, chính là cái duyên, cái tình cờ sắp đặt của thượng đế, của định mệnh khi chính tại miền đất này, tôi đã gặp lại hình bóng của người cha thương yêu. 

Đầu năm 2001, khi tôi đang làm tại KLA-TENCOR, lúc đó nhà cửa rất là hot. Tôi tìm mãi mới thuê được căn nhà 4 phòng ngủ. Giá thuê không rẻ, 1800USD một tháng. Trả tiền nhà rất vất vả khó khan, mất toi ½ số tiền lương hàng tháng. Chúng tôi quyết định tìm người cho share lại bớt một phòng. Đúng lúc có một technician mới vào làm trong dây chuyền của tôi mới được tuyển vào làm việc, cần nơi ở. Thế là thoả thuận về ở chung. Vừa tiện đi làm chung xe, vừa sẽ chia tổn phí, tiện lợi đôi bề. 

Ở một thời gian, làm chung với nhau cả năm, trong một dịp tình cờ khi nhờ ông bạn share phòng cắt tóc giùm, qua cuộc nói chuyện, phát hiện ra ông bạn cùng nhà mấy lâu nay củng là một sĩ quan từng đi "học tập cải tạo". 

- Anh đi tù ở đâu?

- Tân Lập, Vĩnh Phú

- K mấy?

- K2. Biết ông Điềm không?

- Biết quá đi chứ.

Thế đó. Quá bất ngờ hơn, khi người share phòng bấy lâu lại chính là người đã đưa cho tôi mảnh giấy báo tin ba tôi đau nặng tại phòng thăm nuôi K2 trại cải tạo Tân Lập ngày nào.

Không thể nói hết sự kỳ diệu của định mệnh, khi sau 22 năm ngày mất, một sĩ quan tù binh cải tạo gặp lại người con của một bạn tù trên một đất nước quá xa vùng đất biên giới xa xôi. Không diệu kỳ sao được, khi trong hàng triệu người Việt lưu lạc, có mặt trên hàng chục quốc gia, sống trên hơn 50 tiểu bang của Hoa Kỳ, tôi gặp lại đúng một người duy nhất đã đút cho ba tôi những muỗng cháo trắng cuối cùng trước lúc lâm chung. Người đã sống với ba trong những tháng ngày bi thảm đó. Một trong 4 người bạn tù khiêng cha tôi về miền đất lạnh

Từ xưng anh, từ đó tôi gọi là chú, chú L. Hai chú cháu có những đêm thức trắng để kể chuyện về ba tôi.

Chú là người báo cho ba tôi biết hai mẹ con chúng tôi đang đợi chờ mỏi mòn tại phòng thăm nuôi. Duy nhất, chú là người bên ba để chứng kiến những giọt nước mắt cuối cùng tức tưởi của một người đang hấp hối. Chú là người duy nhất nhìn thấy cặp mắt mong đợi mỏi mòn của ba. Dù chỉ gần nhau trong gang tấc, trước khi ra đi vẫn không thể nhìn nhau một lời sau cuối. 

Cám ơn chú L. Người bạn tù của ba tôi, ân nhân không bao giờ quên được của tôi. Sau khi nghỉ hưu, chú về ở với con gái nghe đâu ở tiểu bang Minnesota xa xôi. Chưa một lần chúng tôi gặp lại nhau. Nhưng dù ở bất cứ nơi đâu, cháu cũng cầu mong chú và những người thân yêu thật nhiều may mắn và bình an. 

Và tôi tin rằng ở một nơi nào đó thật xa xôi, ba vẫn luôn dõi theo và che chở cho gia đình chú cũng như cho mẹ con chúng tôi. Nếu có một kiếp sau, con vẫn sẽ là con của ba, người tù cải tạo chết ở miền đất biên giới Việt Trung, ngày 10 tháng 2 năm 1979.

Lê Xuân My

_

Sài Gòn của tôi thể xác không còn mà linh hồn thì ở đâu?

'Sài Gòn của tôi không còn nữa'

Anh công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất sau khi xem hộ chiếu của tôi hỏi: 'Anh là Nguyễn…'
Tôi hồi hộp đón nghe chữ Hòa bút danh của tôi, nhưng không phải, anh ta xướng tên cha sinh mẹ đẻ của tôi trên hộ chiếu.
Vậy là điều lo lắng nho nhỏ khi vào Việt Nam đã không xảy ra. Quan sát anh công an từ đầu, không thấy dấu hiệu nào là tôi bị một cái gì đó trong màn hình máy tính của họ.
Cách đây độ vài năm, báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân… những tờ báo bảo vệ "quan điểm đường lối" cứng rắn nhất, có lần hài bút danh tôi trên những bài báo của họ, cho là tôi đã xuyên tạc thế này thế kia.
Vào Việt Nam lần này tôi chuẩn bị tinh thần là họ sẽ không cho tôi vào, hay tệ hơn là sẽ giữ tôi vài giờ để thẩm vấn gì đó rồi đuổi ra.
Nhưng không có gì xảy ra cả.
Họ chưa biết thân phận tôi?
Họ biết nhưng chẳng thấy tôi là cái gì quan trọng?
Họ không quan tâm tới nữa?
Thời điểm này không có sự kiện gì quan trọng nên họ cho tôi vào?
Hay đơn giản như một nhà bất đồng chính kiến sau đó nói với tôi, là họ hết tiền, không có người làm?
Mà thôi chuyện đấy là chuyện của họ, còn chuyện của tôi là háo hức xem thành phố Sài Gòn của tôi đổi thay như thế nào trong hơn chục năm qua.
Một sự đổi thay kinh hoàng!

Cao ốc và nhà đất

Tôi hoàn toàn không nhận ra những con đường từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố.
Kế tiếp khi vào đến trung tâm tôi cũng không nhận ra nốt.
Con đường Lê Duẫn (trước đó là 30/4, trước nữa là Thống Nhất), trong tâm khảm tôi là một đại lộ rộng lớn, nay trở thành một con đường hẹp với hai hàng cao ốc sừng sững hai bên.
Đường Nguyễn Thi Minh Khai (trước kia là Xô Viết Nghệ Tĩnh, trước nữa là Hồng Thập Tự) biến mất, chỉ còn những tòa tháp bằng kính và bê tông sắt thép cao ngút mắt.
Con đường Lê Quý Đôn thơ mộng nhường chỗ cho một làng nướng vĩ đại với các kiểu quán ăn san sát.
Tôi tìm tới một con hẻm trên đường Phạm Ngọc Thạch (trước kia là Duy Tân) vẫn còn một dãy ghế thấp của một hàng cà phê cóc, ngồi đấy mà nhớ cái yên tĩnh trước kia, vì bây giờ thì 24/7 không ngớt xe cộ, lúc nào cũng kẹt.
Các quán kem và cà phê buổi tối trung tâm quận nhất Sài Gòn
Lên chút nữa là Hồ Con rùa, bây giờ nghìn nghịt xe gắn máy, các tòa nhà hẹp cao chất ngất như đè bẹp các hàng cây sao trăm tuổi.
Quận 1 và Quận 3, một thời vang bóng với những biệt thự sơn màu vàng nhạt, màu trắng, với những giàn hoa giấy từ thời thuộc địa, đã mất tích. Cố công tìm lắm mới thấy một vài bức tường cũ che khuất sau những cửa hàng mặt tiền, hay những biển quảng cáo rực rỡ.
Cái thể xác Sài Gòn "của tôi", nơi cho tôi biết thế nào là một đô thị khi tôi mới chập chững biết đi, nơi cho tôi những tháng ngày vui buồn dưới những hàng cây mát mẻ ở tuổi hoa niên, đã biến mất.
Theo những con số chính thức, bây giờ đã có đến 10 triệu người cư ngụ ở Sài Gòn và những quận mới mở sau này của nó. Tức là cứ 9 người Việt Nam thì có một người sống tại Sài Gòn.
Đông đúc dân cư là một nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho nạn kẹt xe 24/7 của Sài Gòn hiện nay. Nhưng còn một nguyên nhân khác nữa, mà người ta đã nói đến cách đây hơn 30 năm, đó là người ta cứ tiếp tục xây cất ở khu trung tâm những tòa nhà cao ốc, nơi có cả trăm, cả ngàn người, hàng ngày vào làm việc, vậy làm sao mà không kẹt xe cho được.
Thành phố Sài Gòn bây giờ có dáng dấp của bất cứ thành phố của một nước kém phát triển nào trên thế giới, có nghĩa là khu trung tâm cao ốc tài chính thương mại, bao quanh là những vết dầu loang của các khu dân cư mới, lộn xộn nhếch nhác.
Một buổi sáng sớm, tôi vào một quán cà phê của một khu dân cư mới. Gần quán là một con kênh khá lớn, nước đã bắt đầu có màu xám, đầy rác.
Bên trong một quán cà phê tại trung tâm Sài Gòn
Ngoài tôi ra thì những vị khách sớm sủa của quán đều là những tay "cò" địa ốc, với điện thoại di động trong tay, trò chuyện rôm rả. Sau ít phút có hai người vào ngồi chung bàn với họ, và câu chuyện về đất đai, qui hoạch tiếp tục rôm rả. Anh bạn đi cùng nói cho tôi biết hai người đó là chủ tịch và trưởng công an phường.
Khắp nơi là bảng rao bán đất bán nhà, các văn phòng môi giới nhà đất. Về nguyên tắc đất đai vẫn là sở hữu toàn dân, nhưng các văn phòng tư nhân này làm hết mọi chuyện, từ lo giấy tờ nhà đất, cho đến cả cấp biển số nhà.
Giá một ngôi nhà liên kế (town house bên Mỹ) 3 tầng lầu, trong một khu mới mở như vậy vào khoảng 5 tỉ đồng, tức khoảng 200 ngàn đôla Mỹ, mà xung quanh không có gì cả, từ cống rãnh cho đến vỉa hè.
Các quán ăn Nhật Và Hàn đường Tôn Thất Thiệp
Anh Bảo, một bạn đồng nghiệp cũ mua một căn chung cư ở tầng 6, tại một khu gần cầu Tham Lương, xưa là Hóc Môn, nay là quận 12. Hai vợ chồng sống trong một diện tích 44 mét vuông, chỉ có một phòng ngủ. Giá của căn này là hơn một tỉ đồng, tức là vào khoảng 50 ngàn đôla Mỹ.
Và giá nhà đất tiếp tục lên. Một số người bạn cũ của tôi nhờ đó có trong tay cả trăm ngàn đô la Mỹ, thậm chí cả triệu đô la Mỹ.
Nhưng số người như vậy không nhiều. Đa số những người dân sống ở Sài Gòn hiện nay làm việc trong những khu nhà máy ở ngoại ô, với mức lương khoảng 7 triệu đến 10 triệu một tháng. Họ chỉ có thể ở thuê các gian phòng nhỏ gần khu nhà máy.
Anh Bảo bạn tôi cho biết là gia đình nhỏ của anh mỗi tháng xài khoảng 30 triệu đồng, và anh phải ở trong một khoảng không gian 44 mét vuông như vậy, thì chắc chắn những người làm trong nhà máy kia không bao giờ có thể sở hữu một chổ riêng cho mình.
Chị Hồng bạn tôi làm cho một công ty nước ngoài, hàng ngày đi làm bằng tắc xi. Số tiền chị chi cho việc đi lại hàng tháng lên đến 10 triệu đồng, gần gấp đôi toàn bộ thu nhập của một công nhân bình thường.

VIN, VIN, và VIN

Ngoài những cao ốc và nạn kẹt xe, điều thứ hai làm cho tôi có ấn tượng là nhãn hiệu VIN ở khắp mọi nơi. Mọi khu phố đều có những cửa hàng tạp hóa Vinmart, rải rác đây đó bảng quảng cáo cho xe hơn Vinfast, ngự trị tại trung tâm thành phố là một cao ốc bán đồ đắt tiền tên là Vincome, dọc bờ sông Sài Gòn là các cao ốc Vinhome sừng sững, với trung tâm là một tòa nhà, nghe nói cao nhất nước, 81 tầng, mà đi đâu ở Sài Gòn người ta cũng có thể nhìn thấy nó.
Khu cao ốc Vinhomes và toà nhà 81 tầng nhìn từ sông Sài Gòn
Chị Hồng bạn tôi khen ông Vượng, chủ của nhãn hiệu VIN là một người giỏi giang.
Một người em họ của tôi là Huy nói rằng VIN đang rất được chính phủ hỗ trợ, có tham vọng làm tất cả mọi sản phẩm phục vụ người dân, theo nguyên văn lời Huy, là từ khi chào đời cho tới lúc nhắm mắt.
Chị Minh, một người bạn khác của tôi, là giáo viên đại học về hưu, lại mắng ông chủ của VIN là tay lừa đảo, móc ngoặc với các viên chức tham nhũng để chiếm những khu đất mắc tiền, những khu đất lẽ ra phải phục vụ công ích như khu bờ sông Sài Gòn chẳng hạn.
Anh P, một nhà bất đồng chính kiến thì nói với tôi rằng chuyện lên như diều gặp gió của VIN chắc chắn có nhiều rủi ro, vì nền kinh tế chính trị Việt Nam là nền kinh tế chính trị sân sau, hàm ý ông Vượng chắc cũng là sân sau của ai đó trên trung tâm quyền lực.
Huy em tôi là người có chơi chứng khoán khá thành công, tuy vậy Huy không đụng đến cổ phiếu của VIN, mặc dù biết rằng VIN đang được chính phủ ra sức quảng bá và giúp đỡ.
Chị Minh nói với tôi rằng VIN nắm hết cả giới truyền thông Việt Nam, cứ có một bài viết nào không có lợi cho họ thì lặp tức sẽ bị gỡ xuống. Một nguồn tin mà tôi chưa kiểm chứng được nói rằng chuyên gia Đ, lúc đầu cho rằng VIN sẽ không thành công, nhưng sau đó đã đổi giọng khen ngợi VIN.
Anh P nói với tôi ngay cả những người độc lập với nhà nước như anh và một số bạn bè, khi viết về VIN trên mạng cũng cẩn trọng vì e ngại bất trắc xảy ra với mình.

Truyền hình và ngôn ngữ

Cả thành phố hầu như không còn sạp báo nào nữa. Điều cũng hiển nhiên như trào lưu thế giới là thông tin chuyển đi bằng Youtube và truyền hình.
Truyền hình Việt Nam thì tôi không lạ. Khi tôi rời khỏi Việt Nam nó đã có những chương trình giải trí, thương mại rầm rộ. Ghé mắt xem thử một chương trình truyền hình buổi trưa, tôi thấy tính giải trí và thương mại hiện nay còn hơn xưa rất nhiều, với xướng ngôn viên rất trẻ trung và thời trang. Đặc biệt là các tin kiểu xe cán chó, chó cán xe thì đầy ắp.
Điều đáng chú ý nhất là trên các kênh truyền hình này người ta nói bằng một thứ tiếng Việt mà tôi cảm thấy bắt đầu lạ lẫm. Ví du như khi đưa hình ảnh một số em bé ngồi trên thành xe hơi mui trần đang chạy rất nguy hiểm, người kể chuyện thay vì hỏi rằng tại sao cha mẹ các em bé lại để cho con họ như vậy, thì lại nói rằng cha mẹ các em bé "không có động thái gì".
Trên các chuyến xe bus, loa tự động cũng dùng một ngôn ngữ như vậy, thay vì nói ai muốn xuống xe thì bước ra cửa, họ lại thêm vào là ai "có nhu cầu" xuống xe,…..
Tờ báo Sài Gòn Giải Phóng tôi có ở khách sạn đưa tin ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư thành ủy, người có trách nhiệm cao nhất ở thành phố này, làm việc với Sở xây dựng về qui hoạch đô thị.
Ông nói như thế này: Sở xây dựng phải xác định "trạng thái không bế tắc" trong chiến lược phát triển đô thị.
Tôi đem câu này ra hỏi một số người bạn Sài Gòn, họ cũng như tôi, không hiểu ông muốn nói gì.
Trong những ngày tôi ở Sài Gòn, chuyện biểu tình ở Hong Kong đang thu hút giới truyền thông cả thế giới. Trong các chương trình truyền hình ở đây tôi không thấy tin này đâu cả. Thay vào đó là câu chuyện một anh nào đó bên Nga chuyên vẽ trên kính xe đầy bụi, cô ca sĩ MT lo cho mẹ ở nhà,…
Và các kênh truyền hình mà tôi xem thu hút rất đông khán thính giả. Tôi không nghĩ rằng các chương trình bằng tiếng Việt từ hải ngoại có thể thu hút đông như vậy khán thính giả trong nước. Truyền thông của nhà nước đang thắng lớn.

Những người muôn năm cũ

Tôi có nhiều bạn bè ở Sài Gòn, những người đã ở Sài Gòn vài thế hệ, và cả những người mới đến.
Đón người bạn biền biệt là tôi trở về, họ không cho tôi trả một thứ gì cả, từ tiền vé tắc xi cho đến cốc cà phê sáng.
Và may mắn cho tôi là họ vẫn nói chuyện với tôi bằng một ngôn ngữ bình thường, không phải loại ngôn ngữ trên truyền hình mà tôi vừa kể.
Họ là những người trung lưu của thành phố này. Mức độ sung túc của họ sàng sàng giống nhau, nhưng quan điểm xã hội chính trị khá đa dạng.
Có những người như chị Hồng chẳng hạn, dù rất bực dọc với những nhũng lạm hàng ngày nhưng nói rằng đâu có thể làm gì khác với một hệ thống mà mình không thể sửa đổi được.
Chị Minh thì muốn rời Việt Nam, nhưng anh chồng không đồng ý. Anh ở đây sống tốt hơn rất nhiều người, buôn bán chứng khoán kiếm lời nhiều. Con cái họ đều đang làm việc ở nước ngoài.
Huy em tôi, đang làm ăn phát đạt nhờ mở một nhà hàng bán cho thực khách người Đài Loan, Trung Quốc làm việc trong các khu công nghiệp, nhưng lại rất lo ngại là người TQ đang ngày càng hiện diện quá nhiều tại Việt Nam.
Cô em họ tôi là Khánh, làm việc cho một ngân hàng lớn, có hai đứa con đang lớn, thì mặt mày đăm chiêu vì không có cách nào cho các con ra nước ngoài.
Anh bạn Bảo kể cho tôi câu chuyện buồn của gia đình trong đêm chia tay. Anh có đứa con nhỏ bị bệnh tự kỷ, phải tốn tiền cho vào một trường tư nhân, nhưng sau một thời gian, trường bảo là không thể cho bé học ở đó nữa vì ảnh hưởng tới thành tích. Vợ Bảo phải nghỉ việc ở nhà nuôi dạy con gái. Bảo nói với tôi rằng: Đó là nhà mình còn có chút đỉnh tiền, những người công nhân thì sao?
Bảo cũng nhận xét như tôi quan sát, là vẻ mặt của những người đi xe gắn máy ngoài đường căng thẳng hơn rất nhiều so với trước, và người ta dễ ẩu đả với nhau hơn.
Tôi đi xe bus về khách sạn. Người soát vé là một anh bạn trẻ có gương mặt và cái nhìn rất thân thiện, luôn tay giúp đỡ nhiều bà cụ già buôn bán về muộn.
Ngang qua khu vực số 4 Phạm Ngọc Thạch, thấy đèn đuốc sáng lòa, cả trăm bạn trẻ đang gào thét cùng hai ca sĩ người Hàn Quốc trên sân khấu.
Xe cắt qua cuối đường Nguyễn Huệ, nay đã là một con đường dành cho người đi bộ, cả ngàn người trẻ tuổi đang ăn uống rong chơi, các căn chung cư trên con đường này được cho các quán cà phê thuê, rực rỡ ánh đèn màu. Xe chạy ngang khu VINhomes, tọa lạc trên xưởng tàu Ba Son cũ. Những cao ốc lấp lánh đèn y hệt như cảnh Hong Kong về đêm.
Sài Gòn của tôi có lẽ không còn nữa. Tôi cũng không biết là nên vui hay buồn. Cuộc sống phải đi tới, nhưng đi về đâu? Những người Sài Gòn tôi gặp lại vẫn chân tình, vẫn chịu chơi, họ vẫn giúp đỡ người khác như anh bạn trẻ soát vé xe bus trước mặt tôi.
Thể xác Sài Gòn không còn nữa, nhưng liệu hồn cốt nó vẫn còn đấy không?
Bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả Joaquin Nguyễn Hòa từ San Francisco, viết sau một chuyến về thăm TP Sài Gòn tháng 8/2019.




Thoát Trung mà thoát cái gì? Ý kiến về cách tổ chức đấu tranh cách mạng.


Nguyễn Quang Duy
Thứ sáu tuần rồi 23/8/2019, một người bạn của tôi là từ Hoa Kỳ sang thăm có kêu gọi tôi ủng hộ phong trào thoát Trung do tổ chức anh đang vận động.
Tổ chức của anh là một tổ chức đấu tranh cách mạng, theo chủ thuyết nhân bản, thành lập tại Hoa Kỳ vào năm 1992.
Xin nêu rõ điều này để tránh hiểu lầm với các tổ chức khác vì những điều tôi góp ý là nhìn chung cho các tổ chức đấu tranh cách mạng.
Cảm thấy cuộc trò chuyện khá thú vị tôi xin viết lại cũng vừa để ghi nhớ vừa để chia sẻ cùng bạn đọc.

Nhân bản kiểu cách mạng.
Chữ nhân bản có hai nghĩa và khá thú vị hai nghĩa lại có phần đối nghịch. Nghĩa thứ nhất là sinh sản hay sao chép.
Thí dụ con giống cha không thể giống ông hàng xóm hay nhân bản tế bào gốc con trừu thì thành con trừu dolly, không thể thành con bò hay con heo.
Bởi thế nhân bản của cách mạng Liên Xô thì ít nhiều cũng phải giống với mô hình Liên Xô.
Mô hình này được cả đảng cộng sản và đảng quốc dân Trung Hoa học hỏi và sử dụng.
Không may nó lại được người Việt, cả quốc gia và cộng sản, học rồi mang về Việt Nam sử dụng.
Bởi thế người cách mạng Việt vừa mang màu sắc Liên Xô lại vừa mang màu sắc Trung Hoa. Nhưng rất khó để họ thấy được mầu sắc vì nó đã in sâu vào tư tưởng.
Rồi mô hình này theo đoàn người Việt tỵ nạn mang sang Hoa Kỳ sau 30/4/1975. Thế hệ trước truyền lại thế hệ sau và vẫn rất phổ biến trong sinh hoạt các tổ chức đấu tranh.
Vì thế phương cách tổ chức đấu tranh cách mạng của người Việt đều rất giống nhau dù là người quốc gia hay người cộng sản, trong nước hay hải ngoại.
Hồi còn đi học, tôi biết 2 anh 1 là tiến sỹ khoa học và 1 là kỹ sư. Cả 2 đều gia nhập một tổ chức cách mạng lớn cũng xuất phát từ Hoa Kỳ.
Một hôm tôi hỏi anh kỹ sư: “Sao tôi thấy mấy ông khi nói về đấu tranh là nói y chang nhau?”
Anh kỹ sư vui vẻ khoe: “Chung tổ chức, chung tài liệu J “.
Tôi chia sẻ: “À thì ra các ông đã ‘trả bài’ J cho tôi, thảo nào có dư luận các ông tuyên truyền theo kiểu cộng sản”.
Trở lại với bạn tôi anh thuộc một tổ chức đấu tranh cách mạng nên cách nói cũng y chang tài liệu J.
2 lần trước gặp nhau, nghe anh “trả bài” về chủ thuyến nhân bản, còn lần này anh tới để kêu gọi tôi hỗ trợ phong trào thoát Trung do tổ chức anh đang vận động.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, xin google hai chữ “thoát Trung” sẽ tìm được rất nhiều tài liệu, từ câu chuyện “bí mật Thành Đô” tác giả Kami đến những tranh luận nghiêm túc đang diễn ra trong nội bộ Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam.
Như thế sẽ thích thú hơn nên xin phép đi thẳng vào cuộc đối thoại của chúng tôi.

Lê Lợi 25 năm phục quốc…
Bạn tôi cho biết mấy năm nay anh đi Úc, đi Âu, đi Á và đi nhiều tiểu bang Hoa Kỳ để vận động cho việc giải thể cộng sản và bây giờ thấy cần thiết xây dựng phong trào thoát Trung.
Tôi hỏi thế anh đã gặt hái được kết quả gì?
Anh chân thành trả lời đã gặp chừng 200 anh em, nhưng chỉ như mới bắt đầu và cũng chỉ là số không.
Tôi hỏi thế người Tây Phương thường xuyên đánh giá công việc bằng kết quả rồi rút tỉa, học hỏi và điều chỉnh chiến thuật và chiến lược, có bao giờ anh nghĩ nên học hỏi cách làm việc của họ không?
Anh không trả lời câu hỏi của tôi, mà nói về Lê Lợi 25 năm trường kỳ kháng chiến chống quân Minh.
Tôi chia sẻ chỉ 10 năm thôi. 15 năm đầu Lê Lợi đã cộng tác với quân Minh. Hiện còn sắc dụ của vua Nhân Tông nhà Minh phong chức Tri phủ Thanh Hóa cho Lê Lợi.
Còn 10 năm kháng chiến để không bị tiêu diệt Lê Lợi nhiều lần phải trá hàng.
Thậm chí khi bị bao vây không còn đường rút, Lê Lợi phải kêu gọi tướng sỹ tình nguyện mặc hoàng bào để cứu ông thoát chết. Nên mới có chuyện Lê Lai cứu Chúa.
Khi đã cầm quyền triều đại nhà Lê tiêu diệt những bậc công thần, bởi thế mới có chuyện Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.
Anh hỏi thế có phải tôi nghĩ bên trong đảng Cộng sản có người như Lê Lợi?
Tôi không biết và không nói thế. Tôi chỉ chia sẻ nhận xét khách quan về vua Lê Lợi và bài học kiên trì 25 năm kháng chiến anh đưa ra.

Việt Minh cướp chính quyền…
Tôi chia sẻ với anh câu chuyện về “cách mạng mùa thu” xảy ra cách nay đúng 74 năm, ngày 19/8/1945, có liên quan hơn.
Nhật đầu hàng Đồng Minh, tại Hà Nội khi ấy các đảng cách mạng quốc gia có cả ngàn đảng viên với vũ trang đầy đủ nhưng không bắt lấy thời cơ để cầm quyền.
Chủ lực quân cộng sản khi đó vẫn còn trên Pắc Bó, với chỉ vài tay súng cộng sản đã cướp được chính quyền.
Ít lâu sau cộng sản tiêu diệt các đảng cách mạng quốc gia, các lãnh tụ quốc gia nếu không bị giết cũng phải trốn sang Tàu.
Cộng sản tuyên truyền rằng các đảng quốc gia thất bại vì tư tưởng tiểu tư sản, cách mạng cải lương theo tôi có phần đúng.
Trong khi người cộng sản đặt quyền lực và quyền lợi làm động lực chính cho đấu tranh cách mạng và như thế phải nắm được quyền lực, thì người cách mạng quốc gia thường né tránh bàn đến quyền lực và quyền lợi.
Từ bài học thế hệ đi trước, chúng ta cần xét lại con đường cách mạng mấy chục năm qua kiên trì đeo đuổi.

Chuyện gì sẽ xảy ra?
Anh hỏi thế theo tôi thì vận nước xoay chuyển thế nào và tôi thấy phải làm gì?
Tôi trình bày 30 năm trước không ai đoán cộng sản Đông Âu và Liên Xô liên tiếp sụp đổ.
Thương chiến Mỹ-Trung ngày càng khốc liệt, biểu tình Hồng Kông liên tục diễn ra, tranh chấp Biển Đông và bãi Tư Chính càng lúc càng nóng lên, sớm muộn cũng có thay đổi lớn ở Việt Nam.
Sức chúng ta có giới hạn vì thế nên tập trung cho những việc sẽ xảy ra tại Việt Nam để đất nước có được tự do dân chủ thay vì dồn sức xây dựng phong trào thoát Trung.

Đồng tiền hai mặt
Bạn tôi đưa ra hình ảnh 2 mặt đồng tiền, một mặt là thoát Trung mặt khác là thoát cộng.
Còn theo tôi thoát Trung chỉ là một trong rất nhiều vấn đề “đa nguyên” cần được tranh luận để sửa soạn cho tương lai Việt Nam.
Nhiều việc cần làm hơn nhiều, cần ưu tiên công sức có giới hạn cho những việc cần làm, thay vì tập trung xây dựng phong trào và theo kinh nghiệm cá nhân phong trào thường không mang lại kết quả cụ thể.
Phong trào càng lớn càng chóng tàn. Người của phong trào tới với nhau thường chỉ với một số quan tâm cá biệt như “thoát Trung”, nhưng con người thì đa nguyên đa dạng nên khi phong trào tan lại thường tạo ra hậu quả không hay.

Xây dựng Cộng Đồng địa phương
Bạn tôi có trao đổi về về vận động biểu tình ở địa phương. Ý kiến của tôi là muốn tổ chức biểu tình có thực lực cần xây dựng Cộng Đồng địa phương và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm tổ chức biểu tình với Ban Chấp Hành.
Các tổ chức cách mạng thường làm ngược lại, nghĩa là Trung ương ở Hoa Kỳ quyết định phát động biểu tình các cơ sở địa phương vận động Ban Chấp Hành tại Úc.
Nếu được đồng thuận thì tốt còn không được thì cần hiểu rằng Cộng Đồng điều hợp nhiều tổ chức và chịu trách nhiệm trước đồng hương.
Nên quyết định của 1 tổ chức chỉ là quyết định cá nhân tổ chức đó. Đây là nguyên tắc cơ bản của dân chủ cần hiểu và thực hiện tốt nguyên tắc này.
Đương nhiên không ai cấm tổ chức đó đơn phương tổ chức biểu tình, nhưng nên cân nhắc mặt tiêu cực của nó và phương cách đấu tranh cách mạng như thế có còn thích hợp ở hải ngoại hay không?

Ưu tiên của thoát Trung là gì?
Theo tôi cần thiết nhất là phải thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng ăn sâu vào đầu óc của những người đấu tranh chống cộng.
Tôi từng chứng kiến những tổ chức đấu tranh trước đây rất lớn nhưng dần dần tan rã cũng chỉ vì không chấp nhận đa nguyên nội bộ.
Thế giới đang thay đổi, cộng đồng hải ngoại ngày càng phát triển, giới trẻ đang thay thế chúng ta, nên cách suy nghĩ và hành động nhất nguyên, một chiều, thiếu dân chủ là tự cô lập chính mình.

Làm sao để thoát Trung?
Ở Mỹ đang tranh cử Tổng Thống 2020, hơn 20 ứng cử viên đảng Dân Chủ đang công khai tranh cãi về đường lối về chính sách để thu hút đảng viên dồn phiếu cho mình.
Chúng ta đang sống trong các quốc gia dân chủ tại sao không học hỏi để chuyển đổi phương cách tổ chức từ cách mạng chuyển sang chính trị?
Sao không lấy việc công khai tranh luận về đường hướng đấu tranh, về chiến thuật, về chính sách, về chiến lược để xây dựng hướng đi?
Sao không lấy việc cạnh tranh quyền lực lãnh đạo một cách công khai và dân chủ làm nền tảng phát triển tổ chức?
Cách mạng là thay đổi tận gốc. Đáng tiếc sống ở hải ngoại mà nhiều tổ chức cách mạng không dám tự cách mạng tổ chức cho thích hợp với thời cuộc.

Kiên định đến chết
Tôi chưa nghe người đấu tranh nào thực lòng lên tiếng “thay đổi không thì chết!”, nhưng lại chứng kiến nhiều tổ chức đang chết từ từ hay đã chết nhưng không được chôn.
Tôi từng công khai trao đổi với nhiều nhân vật lãnh đạo các tổ chức đấu tranh ở Mỹ về nhu cầu phải thay đổi để thích ứng với thời cuộc.
Thậm chí tôi đã 3 lần thẳng thắn và công khai góp ý Tổng Bí Thứ của một đảng cách mạng được xem là lớn nhất hải ngoại, là nếu họ vẫn đeo theo “lối mòn chính trị” mấy chục năm nay thì họ không thể đối thoại được với những người đấu tranh không cùng tổ chức.
Nếu thế thì mô hình cách mạng theo kiểu bàn tròn Ba Lan (mà ông ấy mơ ước) sẽ không bao giờ xảy ra. Ông ta nhìn nhận và cho biết sẽ có lúc phải thay đổi.
Mấy năm rồi chờ đợi nhưng thật đáng tiếc mọi việc vẫn như cũ.

Nhân bản nghĩa thứ hai
Nhân bản lấy con người làm gốc, chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt cá nhân, có như thế mới giúp phát huy môi trường đa nguyên chính trị.
Như thế đa nguyên, nhân bản và dân chủ chỉ tồn tại bên trong các đảng chính trị.
Có như thế thì đường lối, chính sách, chiến lược mới có thể công khai, minh bạch và nhanh chóng thay đổi thích hợp nhất với thời cuộc.
Có như thế các tổ chức có đường lối, chính sách, chiến lược khác nhau mới công khai đối thoại với nhau, mới hiểu, mới phân chia công việc và chia sẻ trách nhiệm đấu tranh chung.
Có như thế thì các tổ chức chính trị mới dễ dàng hòa giải khi gặp bất đồng, cùng nhau xây dựng đồng thuận.
Có như thế thì các tổ chức chính trị mới gắn bó xây dựng Cộng đồng địa phương, nhận trách nhiệm chủ lực cho các công tác đấu tranh.
Có như thế các tổ chức đấu tranh mới tạo được niềm tin cho quần chúng và thành công trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.
Con đường tôi đeo đuổi bấy lâu nay là vận động thành lập một Quốc Hội Lập Hiến, soạn một Hiến Pháp mới và thiết lập một thể chế tự do dân chủ cho Việt Nam.

Thực tế đau lòng…
Thực tế là người đấu tranh hải ngoại thường tránh né tranh luận, thậm chí che đậy những khác biệt cơ bản.
Kết quả là việc ai nấy làm, ai làm người ấy chịu, chẳng ai tin ai và vì thế càng ngày chúng ta ngày càng “già” và càng “yếu”, trong khi đất nước thì càng ngày càng lụn bại.
Điều tôi lo ngại nhất là thay đổi tại Việt Nam chỉ dẫn tới một thể chế độc tài không cộng sản.
Vì chỉ có những cá nhân và tổ chức thực sự đa nguyên chính trị mới có thể xây dựng được một thể chế tự do dân chủ cho Việt Nam.

Kết thúc câu chuyện…
Ngay hôm sau tôi nhận được email bạn tôi như sau: “Rất vui đã được gặp lại anh Duy tại Melbourne. Trao đổi, tâm tình suốt gần 4 tiếng rất thú vị và chúng ta hiểu thêm về nhau hơn.”
Tôi trả lời email anh: “Cám ơn anh tôi cũng cảm thấy khá thú vị để viết 1 bài tặng anh. Khi viết xong tôi sẽ gởi bản nháp anh đọc trước để xem có gì cần sửa đổi trước khi phổ biến.”
Câu chuyện của chúng tôi thú vị hay không là tùy tâm tình bạn đọc trước những chuyển biến đang xảy ra trên thế giới và tại Việt Nam.
Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta cần thẳng thắn trao đổi ý kiến, tôi hứa sẽ trả lời và nếu thấy đủ ý để viết thành một bài khác tôi sẽ viết.
Mọi ý kiến xin gởi về email duyact@yahoo.com.au
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
27/8/2019